Thủ tướng đồng ý cho Bộ TT&TT chủ trì xây dựng Đề án chuyển đổi số quốc gia

Tại buổi làm việc mới đây với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ TT&TT đã đề nghị Thủ tướng giao cho Bộ TT&TT chủ trì xây dựng Đề án chuyển đổi số quốc gia. Bộ TT&TT cho rằng, quốc gia số là nền tảng quan trọng nhất của một quốc gia khởi nghiệp, sáng tạo. Theo báo cáo của các tổ chức uy tín trên thế giới, nếu quyết tâm chuyển đổi số mạnh mẽ sẽ giúp các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam tăng năng suất lao động lên từ 30 đến 40%, góp 20 – 30% trong tăng trưởng GDP, tránh được bẫy thu nhập trung bình.

Mới đây, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản kết luận của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với Bộ TT&TT trả lời nhiều kiến nghị, trong đó có kiến nghị giao cho Bộ TT&TT chủ trì xây dựng Đề án chuyển đổi số quốc gia. Thủ tướng đã đồng ý cho Bộ TT&TT chủ trì xây dựng Đề án chuyển đổi số quốc gia, nhưng lưu ý thời điểm triển khai thực hiện để đảm bảo tính đồng bộ, khả thi, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Trao đổi tại hội thảo Vietnam Finance 2018 “Chuyển đổi số trong ngành Tài chính” ngày 26/9/2018, Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng cho hay, hiện nay khái niệm chuyển đổi số mới được đề cập trong phạm vi hẹp, được hiểu là số hóa ứng dụng CNTT để thúc đẩy phát triển sản xuất, cung ứng dịch vụ.

“Thế giới đang bước vào cuộc CMCN 4.0, xây dựng Chính phủ số hướng tới nền kinh tế số. Việt Nam không đứng ngoài xu thế đó, việc tiến hành tốt chuyển đổi số sẽ giúp Việt Nam chủ động trong cuộc CMCN 4.0, hướng tới quốc gia thông minh”, Thứ trưởng nói.

Chuyển đổi số sẽ dẫn đến thay đổi mô hình kinh doanh. Nếu chưa có dữ liệu phải tạo ra dữ liệu, đầu tư nhân lực, công nghệ để sử dụng được. Xem xét chia sẻ và bảo vệ dữ liệu để đóng góp vào phát triển kinh tế.

Theo đánh giá, tại Việt Nam, lĩnh vực tài chính và CNTT có mức độ sẵn sàng cao nhất để chuyển đổi số dựa trên nguồn dữ liệu khổng lồ, các công nghệ lõi như dữ liệu lớn, IoT, Ai… Công nghệ Blockchain đang có ảnh hưởng mạnh, có thể áp dụng hầu hết trong các ngành nghề nhưng phổ biến nhất trong tài chính, ngân hàng, giúp minh bạch hơn.

Dù vậy trong chuyển đổi số tại Việt Nam sẽ có nhiều thách thức lớn. “Thách thức đối với chuyển đổi số ở Việt Nam là nguồn lực và kỹ năng; văn hóa và nhận thức; an toàn an ninh mạng. Cho dù Việt Nam có tiến hành chuyển đổi số hay không thì khi đoàn tàu CMCN 4.0 đến, chúng ta cũng sẽ bị ảnh hưởng. Như câu chuyện Uber hay Crypto Currency vào Việt Nam”, Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng khuyến cáo.

Hiện nhiều doanh nghiệp ICT của Việt Nam đã ra tuyên bố chiến lược về chuyển đổi số. Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập FPT và Techday mới đây, Chủ tịch FPT khẳng định, sứ mệnh của FPT là tiên phong chuyển đổi số. Cơ hội này trước hết mở ra một hướng mũi nhọn có giá trị hàng chục tỷ đô la Mỹ cho Việt Nam. Người ta nói đây là thời đại của Internet of Things, đối với FPT đây còn là thời đại Internet của các công ty, tổ chức. Bởi xét cho cùng, thế giới này là thế giới của sản xuất, dịch vụ, của ngân hàng, của hàng không… Đây sẽ là thị trường lớn nhất của chuyển đổi số.

FPT đã và đang tiên phong khai phá những thị trường chuyển đổi số này, đứng cùng sân với những công ty lẫy lừng thế giới và hợp tác cùng họ. Với chiến lược đó, FPT có thể một lần nữa mở rộng thị trường công nghiệp phần mềm và đóng góp tỷ đô cho nền công nghiệp mũi nhọn này. Mục tiêu 10 năm tới là có hơn 200.000 kỹ sư phần mềm, tạo ra công ăn việc làm gián tiếp cho 650.000 người.

FPT sẽ cung cấp giải pháp cho Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số. Tham gia xây dựng thành phố thông minh, giao thông thông minh, y tế thông minh, giáo dục thông minh để thêm nhiều triệu người được hưởng lợi, đồng thời nâng cao vị thế cạnh tranh của đất nước.

“Ước mơ của những ngày đầu là mở mang bờ cõi, thì ước mơ của thời đại mới sẽ là trở thành công ty chuyển đổi số hàng đầu thế giới với hầu hết doanh thu đến từ dịch vụ chuyển đổi số”, Chủ tịch FPT nhấn mạnh.

Trước đó, ngày 6/5, Tập đoàn Công nghệ CMC tổ chức Lễ kỷ niệm 25 năm thành lập, Chủ tịch Tập đoàn CMC Nguyễn Trung Chính nhấn mạnh: “Thế giới đang mở ra một thời kỳ mới, kỷ nguyên Internet, kỷ nguyên số, kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức. Cơ hội rất lớn nhưng thách thức không hề nhỏ. Mục tiêu 3 năm tới của CMC là xây dựng thành công doanh nghiệp sáng tạo, theo chuẩn quốc tế World Class, đi đầu trong công cuộc chuyển đổi số, tăng gấp đôi doanh số lên 10 ngàn tỷ đồng. Với CMC, 25 năm là chặng đường khá dài nhưng nếu so với 100 năm thì CMC mới như một chàng thanh niên. Vì thế, điều quan trọng nhất, tuyệt vời nhất của CMC còn ở phía trước. CMC quyết tâm đi đầu trong chặng đường chuyển đổi số để chinh phục thế giới số”.

Chìa khóa nào để Việt Nam “hút” vốn đầu tư từ Nhật Bản hiệu quả

Thống kê cho thấy, trong 8 tháng qua, Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam tổng số vốn khoảng 7 tỷ USD, nhiều hơn quốc gia xếp vị trí thứ 2 là Hàn Quốc 1,8 tỷ USD.

Đặc biệt, trong những năm trở lại đây, nhiều doanh nghiệp Nhật đã từng bước thâm nhập vào thị trường Việt Nam.

Chìa khóa nào để Việt Nam “hút” vốn đầu tư từ Nhật Bản hiệu quả - Ảnh 1.

Thị trưởng thành phố Sakai (thứ 2 từ phải sang) tiếp đoàn công tác của VCCI và thành phố Cần Thơ.

Tuy nhiên, để tạo được những thành công hơn trong việc mời gọi các doanh nghiệp Nhật Bản vào đầu tư, vẫn còn nhiều điểm hạn chế từ các địa phương và doanh nghiệp Việt. Bởi người Nhật rất coi trọng vấn đề “nhập gia tùy tục”. Do đó, khi tìm kiếm đối tác ở Việt Nam, người Nhật cũng muốn gặp được những người hiểu rõ họ.

Những ngày trung tuần tháng 10, tại tòa thị chính SaKai, tỉnh Osaka, Nhật Bản, ông Takeyama Osami – Thị trưởng thành phố vui mừng khi tiếp xúc và trao đổi với đại diện lãnh đạo VCCI khu vực ĐBSCL và thành phố Cần Thơ. Ông phấn khởi khi nhận được thư mời của lãnh đạo UBND Thành phố Cần Thơ mời tham dự Lễ hội văn hóa Việt Nam – Nhật Bản lần thứ 4, tổ chức ở Thành phố Cần Thơ vào đầu tháng 11 tới.

Đồng thời, ông Takeyama Osami cho biết bản thân ông rất vui khi được đại diện thành phố Cần Thơ thông tin sẽ có chuyến bay trực tiếp từ Nhật Bản đến sân bay Quốc tế Cần Thơ dịp địa phương tổ chức Ngày hội.

Tuy nhiên, ông Takeyama Osami nêu rõ, đối với ông cũng như lãnh đạo thành phố rất khó sắp xếp được thời gian tham dự. Bởi theo ông, các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo thành phố SaKai cũng như ở các địa phương khác của Nhật Bản đều được lên lịch làm việc từ nhiều tháng trước đó. Có những hoạt động đã được sắp xếp trước đó cả năm.

Ông Hitoshi Kato, Chủ tịch Văn phòng Kato, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nhật – Việt tại Sakai cho biết, việc không tham dự một sự kiện khi thời gian quá cận kề là điều bình thường ở Nhật Bản – nơi nổi tiếng tỉ mỉ, chu đáo và có những kế hoạch dài hạn trong sắp xếp công việc.

Là người có mối quan hệ với các nhà lãnh đạo và một số địa phương của Việt Nam, ông Hitoshi Kato cho biết, các nhà đầu tư Nhật trước đây thường tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo khi đầu tư tại Việt Nam. Hiện nay, đã bắt đầu có thêm nhiều nhà đầu tư Nhật quan tâm đầu tư vào dịch vụ, nông nghiệp… Trong đó, bản thân ông đã góp phần rất lớn vào dự án nâng cao hiệu quả đánh bắt cá ngừ đại dương tại Bình Định. Chương trình này không chỉ giúp đỡ ngư dân về kỹ thuật đánh bắt mà cả về vốn và thị trường.

Không chỉ hỗ trợ Bình Định với dự án cá ngừ đại dương, ông Kato còn hỗ trợ tiếp thị các dự án mời gọi đầu tư của Bình Định cho các doanh nghiệp Nhật Bản tại Thành phố Sakai và tỉnh Osaka. Tuy nhiên, theo ông Kato, mọi việc lúc đầu rất vất vả trong việc hỗ trợ. Cụ thể khi thực hiện các tài liệu dịch sang tiếng Nhật và trình bày để người Nhật dễ hiểu về hình ảnh, tiềm năng và thế mạnh của tỉnh cũng như cung cấp danh mục của các dự án mời gọi đầu tư với các nhà đầu tư Nhật Bản bằng tiếng Nhật.

Trong đó, kinh nghiệm qu‎ý mà ông Kato rút ra với các địa phương và doanh nghiệp Việt khi muốn người Nhật hiểu và đầu tư nhiều hơn thì chính quyền, doanh nghiệp Việt phải tìm hiểu kỹ văn hóa của người Nhật. Trong đó, điểm quan trọng bậc nhất chính là việc giữ chữ tín, giữ lời hứa cho dù nó là những công việc nhỏ nhất; giờ giấc cũng rất quan trọng trong các buổi hẹn với đối tác Nhật Bản. Bên cạnh đó, đối với các dự án đầu tư phải kiên nhẫn để làm việc cẩn thận đến từng chi tiết nhỏ và phải đàm phán rất kỹ càng, rất tập trung cho rõ mọi việc.

Ông Hitoshi Kato cho biết thêm: “Trong các buổi làm việc với các hiệp hội doanh nghiệp hay hội công thương Nhật, tôi nghĩ rằng đừng bao giờ nói ngay là các doanh nghiệp Nhật hãy đến địa phương chúng tôi đầu tư. Thay vì như vậy bạn có thể đề nghị là phía doanh nghiệp Nhật hãy thành lập một đoàn đến địa phương của Việt Nam để xem rằng các tiềm năng, thế mạnh như thế nào để doanh nghiệp Nhật, từ đó có thể nắm bắt và đầu tư theo nhu cầu của doanh nghiệp Nhật. Trong đó, Hội công thương của các địa phương của Nhật mỗi năm sẽ tổ chức các chuyến đi thị sát nước ngoài. Và sau khi đã khi thị sát ở địa phương của Việt Nam, bước tiếp theo là tổ chức buổi hội thảo với các thành phần có liên quan để xúc tiến đầu tư”.

Chìa khóa nào để Việt Nam “hút” vốn đầu tư từ Nhật Bản hiệu quả - Ảnh 2.

Ông Hitoshi Kato – Người kết nối nhiều dự án Nhật – Việt.

Phân tích rõ hơn sự chú trọng hợp tác dài hạn trong đầu tư ở Việt Nam, ông Yoshiaki Hayashi, đại diện Hiệp hội Thương mại và Công nghiệp Sakai bao gồm 5.000 hội viên, tương ứng với 5.000 công ty đang hoạt động trên địa bàn thành phố cho biết việc đầu tiên là phải tìm hiểu thực tế. Bởi có như thế, mới có những quyết định và chiến lược làm ăn lâu dài: “Hàng năm chúng tôi đều có các chuyến thị sát ở nước ngoài. Vào tháng 3 của năm ngoái, chúng tôi đã tổ chức một đoàn doanh nghiệp để khảo sát thị trường ở Việt Nam. Cụ thể là chúng tôi đã đến TP HCM, Đà Nẵng, Hội An (Quảng Nam) và nơi có di sản thế giới là Huế. Tại đây chúng tôi đã có buổi làm việc rất kỹ với chính quyền thành phố. Trong buổi làm việc, chúng tôi đã có được rất nhiều thông tin và môi trường đầu tư. Và chúng tôi có những thời gian trao đổi rất kỹ trước khi có những quyết định đầu tư”.

Ông Nguyễn Phương Lam, Giám đốc Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam – chi nhánh Cần Thơ nêu rõ Nhật Bản là một trong những quốc gia có vốn đầu tư nhiều nhất ở Việt Nam. Tuy nhiên, từ trước đến nay, Nhật có thế mạnh đầu tư vào các lĩnh vực chế tạo cũng như các lĩnh vực cơ khí, điện tử. Còn ở ĐBSCL, có thế mạnh về nông nghiệp nhưng chưa có nhiều doanh nghiệp Nhật đầu tư. Đến thời điểm này có 169 công ty Nhật Bản đầu tư nhà máy tại khu vực ĐBSCL và bắt đầu tăng dần.

Vì sao người Nhật bán hơn 665 triệu đồng/cặp dưa? Hầu hết sản phẩm hoa quả của Nhật Bản được bán tại Việt Nam có giá trị gấp nhiều lần so với sản phẩm nội địa.

Chính vì vậy, việc đón đầu làn sóng đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp buộc các doanh nghiệp trong vùng ĐBSCL phải nắm bắt được những đặc điểm văn hóa của người Nhật. Đây sẽ là yếu tố quan trọng để giữ được mối quan hệ làm ăn lâu dài, làm việc với các đối tác Nhật Bản: “Và chúng tôi cũng rất hiểu để người Nhật, doanh nghiệp Nhật Bản hiểu về vùng đất ĐBSCL thì trước tiên phải hiểu về văn hóa và con người lẫn nhau. Vì vậy trong rất nhiều năm, chúng tôi đã tổ chức nhiều hoạt động, trong đó có chương trình giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản tại thành phố Cần Thơ. Năm nay là lần thứ 4 chúng tôi tổ chức, cùng với đó là kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam và Nhật Bản”, ông Lam cho biết thêm. 

Người Nhật vốn nổi tiếng tỉ mỉ, chu đáo trong công việc nhưng đó không phải là những đặc tính bẩm sinh. Nó đến từ sự rèn luyện, tích lũy và điều đó có thể ít nhiều hữu ích cho người Việt tham khảo. Ông Hitoshi Kato cho biết thêm rằng xu hướng chuyển dịch đầu tư cho thấy Việt Nam không chỉ hấp dẫn trong công nghiệp mà còn ở nhiều lĩnh vực khác, cụ thể là lĩnh vực nông nghiệp.

Tuy nhiên, theo ông Kato, từ làn sóng đầu tư này, buộc các doanh nghiệp và đối tác Việt Nam phải hiểu nét văn hóa Nhật nhiều hơn và nắm bắt nhiều hơn để kết nối thành công với doanh nghiệp Nhật Bản: “Vì vậy, sau này khi các đối tác Việt Nam làm việc với đối tác Nhật Bản, chúng ta cần hiểu rõ nét văn hóa và những điểm khác biệt của riêng mỗi nước để chúng ta có cách làm hiệu quả và thuận lợi hơn. Đây chính là cách thức tốt nhất để thu hút đầu tư từ Nhật Bản”.

Với nền kinh tế lớn hàng đầu của Châu Á và thế giới – Nhật Bản đang là thị trường đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Ngược lại, Việt Nam rất quan tâm mời gọi đầu tư từ các doanh nghiệp Nhật. Do vậy, việc nắm rõ đặc điểm tiêu dùng và tính cách kinh doanh, phong tục, sở thích của họ sẽ giúp các doanh nghiệp Việt giao tiếp và kinh doanh thành công với người Nhật./.

Thuế các nước sẽ giảm thế nào khi TPP-11 có hiệu lực từ giữa tháng 1/2019?

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) dự kiến sẽ có hiệu lực từ giữa tháng 1/2019, số lượng các nước thông qua TPP cần thiết sẽ vượt qua con số 6 theo yêu cầu trước thời điểm tháng 11/2018.

New Zealand, Australia, Việt Nam và Canada dự kiến sẽ hoàn thành quá trình phê chuẩn TPP trước thời điểm tháng 11/2018, trước đó Nhật, Mexico và Singapore đã hoàn tất việc này. Hiệp định sẽ chính thức có hiệu lực khi mà từ 6 thành viên trở lên thông qua nó.

Việc hình thành nên khu vực tự do thương mại bao trùm một khu vực rộng lớn thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương diễn ra ở thời điểm Tổng thống Mỹ Donald Trump đang cố gắng đẩy mạnh việc ký kết một số thỏa thuận thương mại song phương thông qua nhiều vòng đàm phán song phương cũng như các lời đe dọa về thuế quan.

Kể từ khi Mỹ rút khỏi TPP vào đầu năm 2017, Nhật đã không ngừng dẫn đầu các vòng đàm phán TPP. Nhật chuẩn bị bước vào các cuộc đàm phán về hiệp định thương mại song phương với Mỹ. Bộ trưởng Nhật phụ trách các vấn đề về TPP, đã xác nhận về thời gian cụ thể của vòng đàm phán và báo cáo lên Thủ tướng Nhật trong ngày thứ Hai.

Bộ trưởng phụ trách Thương mại và Xuất khẩu của New Zealand, ông David Parker, tuyên bố chính phủ New Zealand hy vọng sẽ có thể thông qua TPP-11 trong những tuần tới. Hôm nay, Bộ trưởng Nhật sẽ có cuộc gặp với người đồng cấp New Zealand để xác nhận về kế hoạch của New Zealand.

Trong tuần trước, Thượng viện Australia cũng đã thông qua TPP, hiện chỉ còn tồn tại lại một số vấn đề kỹ thuật.

Việt Nam dự kiến cũng sẽ thông qua TPP trước ngày 12/11/2018. Canada đang có các cuộc bàn thảo tại nghị viện, việc thông qua TPP nhiều khả năng sẽ được hoàn tất trước thời điểm giữa tháng 11/2018.

Hiệp định TPP-11, từng được đặt tên lại thành CPTPP, sẽ bao gồm nhóm nước chiếm khoảng 13% tổng GDP toàn cầu. Cuối cùng, khoảng 99,9% hàng công nghiệp xuất khẩu của Nhật và khoảng 98,5% nông sản xuất khẩu Nhật sẽ được hưởng tiếp cận với thị trường không thuế quan. Đối với ngành ô tô, mức thuế 6,1% của Canada sẽ được loại bỏ sau 5 năm. Mức thuế 70% áp với các phương tiện lớn sẽ được loại bỏ trong lộ trình 10 năm.

Sau khi TPP chính thức được thông qua, Bộ trưởng các nước thành viên sẽ nhóm họp để bàn đến việc mời những nước có ưa thích tham gia như Thái Lan hoặc Anh gia nhập. Việc gia nhập nếu có cũng chỉ có thể sớm nhất từ giữa tháng 1/2019.

Nhật đang rất chờ đợi TPP-11 có hiệu lực. Khi mà các vòng đàm phán thương mại song phương với Washington sẽ chính thức khởi động từ khoảng 16/1/2018, việc TPP-11 có hiệu lực từ thời điểm đó sẽ giúp Nhật có thêm căn cứ để đàm phán về mặt hàng nông sản.

Tăng thuế môi trường với hàng loạt mặt hàng từ 1/1/2019

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 579/2018/UBTVQH14 về Biểu thuế bảo vệ môi trường. Theo đó, từ ngày 1/1/2019, thuế bảo vệ môi trường đối với một số mặt hàng xăng dầu và các mặt hàng có ảnh hưởng xấu đến môi trường sẽ được điều chỉnh.

Cụ thể, thuế bảo vệ môi trường với xăng tăng từ 3.000 đồng/lít lên 4.000 đồng/lít, dầu diesel tăng từ 1.500 đồng/lít lên 2.000 đồng/lít, dầu mazut, dầu nhờn tăng từ 900 đồng/lít lên 2.000 đồng/lít; dầu hỏa từ 300 đồng/lít lên 1.000 đồng/lít.

Tăng thuế môi trường với hàng loạt mặt hàng từ 1/1/2019 - Ảnh 1.

Mức thuế môi trường với xăng áp dụng từ ngày 1/1/2019 là 4.000 đồng/lít.

Ngoài ra, nghị quyết cũng điều chỉnh mức thuế đối với nhiều mặt hàng có ảnh hưởng xấu đến môi trường như than đá, túi nylon thuộc diện chịu thuế, dung dịch HCFC…

Thuế bảo vệ môi trường với than antraxit tăng từ 20.000 đồng/tấn lên 30.000 đồng/tấn. Với than nâu, than mỡ, than đá khác, mức thuế tăng từ 10.000 đồng/tấn lên 15.000 đồng/tấn.

Đối với dung dịch HCFC, thuế tăng từ 4.000 đồng/kg lên mức 5.000 đồng/kg; đối với túi nylon thuộc diện chịu thuế tăng từ 40.000 đồng/kg lên mức 50.000 đồng/kg.

Tại Báo cáo thẩm tra bổ sung Nghị quyết về biểu thuế bảo vệ môi trường chiều 20/9, Ủy ban Tài chính – Ngân sách Quốc hội cho biết nếu điều chỉnh mức thuế bảo vệ môi trường thì một năm thu được khoảng 15.189 tỷ đồng giúp cho đầu tư để xử lý vấn đề môi trường.

Thời hạn hiệu lực của Nghị quyết thực tế đã được điều chỉnh lùi sang đầu năm sau. Theo Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển, thời điểm có hiệu lực của Nghị quyết bắt đầu từ 1/1/2019 sẽ không tác động làm tăng chỉ số CPI của năm 2018 đã được Quốc hội quyết định và bảo đảm dư địa cho Chính phủ điều chỉnh chỉ số lạm phát 2019.

Tăng thuế môi trường với hàng loạt mặt hàng từ 1/1/2019 - Ảnh 2.

Một số mặt hàng thuộc diện tăng thuế bảo vệ môi trường

Trong bối cảnh giá năng lượng thế giới liên tục hồi phục thời gian qua, việc áp kịch trần thuế bảo vệ môi trường (từ 3.000 lên 4.000 đồng/lít) kể từ 1/1/2019 được cho là sẽ tạo áp lực lớn lên lạm phát thời gian tới.

Theo Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), 1.000 đồng thuế bảo vệ môi trường tăng vào giá xăng có thể làm tỷ lệ lạm phát trong vòng một năm tới tăng 1,6 điểm phần trăm. VEPR cũng nhận định lạm phát năm 2019 sẽ vượt xa mức mục tiêu 4% mà Chính phủ và Quốc hội đặt ra cho những năm gần đây.

Theo Ngọc Linh

Người đồng hành

Doanh nghiệp nhà nước và ‘bóng ma’ nợ nần

Những ‘chúa chổm’ nợ hơn 1,5 triệu tỷ đồng

Báo cáo mới nhất về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp năm 2017 vừa được Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng thừa ủy quyền của Chính phủ gửi tới Quốc hội cho thấy, tổng tài sản của 526 doanh nghiệp Nhà nước đến hết năm tài chính 2017 tăng 3%, đạt hơn 3 triệu tỷ đồng. Trong đó các tập đoàn, tổng công ty, công ty mẹ – con có tổng tài sản gần 2,8 triệu tỷ đồng; còn lại trên 239.000 tỷ đồng thuộc về số công ty TNHH MTV.

Theo báo cáo, tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty hơn 1,53 triệu tỷ đồng, tăng 1,3% so với 2016 và chiếm hơn một nửa tổng tài sản của các đơn vị. Tại nhiều doanh nghiệp, hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu lên tới hơn 3 lần. Đơn cử, Tổng Công ty Xuất nhập khẩu tổng hợp Vạn Xuân có hệ số nợ lên tới 45,56 lần; Tổng công ty Đầu tư và Phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) là 8,07 lần; Tổng công ty Xăng dầu quân đội 7,88 lần; Tổng công ty Truyền hình cáp Việt Nam (VTVCab) 3,3 lần…

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, một số tập đoàn, tổng công ty có số nợ vay từ các ngân hàng lớn. Cụ thể: PVN nợ hơn 146.580 tỷ đồng; EVN hơn 132.000 tỷ đồng; TKV gần 48.700 tỷ; Viettel gần 43.500 tỷ; Vinachem gần 28.420 tỷ đồng. Ngoài vay từ các ngân hàng trong nước, các DNNN cũng vay từ các tổ chức tài chính nước ngoài gần 616.000 tỷ đồng.

Cùng với nợ phải trả lớn, các DNNN cũng có những khoản nợ phải thu tăng 13% so với 2016, khoảng 409.000 tỷ đồng. Trong đó, PVN là tập đoàn có khoản nợ khó đòi lớn nhất, 6.956 tỷ đồng. Kế đến là Tập đoàn Cao su Việt Nam (1.557 tỷ đồng); Tập đoàn Viễn thông quân đội (1.406 tỷ đồng); Tổng Công ty Lương thực Miền Nam (655 tỷ đồng); Tập đoàn Công nghiệp Than, Khoáng sản Việt Nam (458 tỷ đồng); Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (437 tỷ đồng); Tổng Công ty Cà phê Việt Nam (303 tỷ đồng); Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (298 tỷ đồng); Tổng Công ty Xi măng Việt Nam (208 tỷ đồng);…

Báo cáo gửi Quốc hội cũng cho thấy, tình hình “sức khoẻ” của nhiều đơn vị đang kinh doanh thua lỗ rất xấu. Riêng lỗ luỹ kế của 10 tập đoàn, tổng công ty lên tới hơn 12.074 tỷ đồng. Theo báo cáo của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, doanh nghiệp này có mức lỗ lũy kế 1.967,8 tỷ đồng. Tập đoàn Viễn thông quân đội 5.589 tỷ đồng; Tổng Công ty Cà phê Việt Nam 44,67 tỷ đồng; Tổng Công ty Thương mại Hà Nội (14,98 tỷ đồng); Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (14,61 tỷ đồng); Công ty TNHH MTV Duyên Hải (11,994 tỷ đồng).

Riêng phần lỗ phát sinh theo báo cáo của 3 đơn vị là Công ty mẹ – Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (287,61 tỷ đồng) do trích lập dự phòng tổn thất đầu tư tại các đơn vị thua lỗ  tại Công ty TNHH MTV Đạm Ninh Bình, Công ty CP Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc và Công ty CP DAP số 1 – Vinachem, Công ty CP DAP số 2 – Vinachem. Lỗ phát sinh tại Công ty mẹ – Tổng công ty Lương thực Miền Nam lên tới 119,18 tỷ đồng. Lỗ phát sinh tại Công ty mẹ – Công ty TNHH MTV Duyên Hải cũng đạt 14,67 tỷ đồng.

“Hiệu quả sản xuất kinh doanh và đóng góp của một số DNNN còn hạn chế, chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đầu tư. Chưa kể, một số dự án còn thua lỗ, thất thoát vốn lớn”, báo cáo Chính phủ nhận xét.

DNNN thua lỗ: Khó xử lý triệt để vì lợi ích nhóm

Trao đổi với PV Tiền Phong, Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, tình trạng các DNNN và các dự án đầu tư chậm tiến độ, hoạt động thua lỗ, kém hiệu quả…đã diễn ra lâu nay nhưng không được giải quyết triệt để. Nguyên nhân đến từ hai phía, cả phía DNNN và các cơ quan quản lý nhà nước.

“Ở đây, rõ ràng có lợi ích nhóm. Khi chưa vượt qua được lợi ích nhóm đó thì chưa thể giải quyết triệt để vấn đề. Người ta sẽ không muốn đụng chạm đến lợi ích đang có, còn nếu làm tung tóe, bung bét ra sẽ có ông A, bà B phải chịu trách nhiệm chứ không chỉ mình doanh nghiệp”, TS Lê Đăng Doanh nói.

Theo ông Doanh, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước phải quyết tâm cao độ, chỉ rõ trách nhiệm cũng như có các biện pháp đủ mạnh để giải quyết dứt điểm tồn tại. “Chẳng hạn, phải quy rõ trách nhiệm cá nhân, công khai tại sao đề án này anh A ký đến nay vẫn thua lỗ, trách nhiệm của anh ra sao? Quốc hội phải có thái độ rõ ràng, gay gắt mới có thể chuyển biến được tình hình”, TS Lê Đăng Doanh nói.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, quản lý rủi ro tại các DNNN chưa được quan tâm, thậm chí bị “bỏ quên”. Trong khi đó theo bà Lan, ở khối doanh nghiệp tư nhân, quản lý rủi ro là yếu tố tiên quyết. “Sở dĩ như vậy bởi doanh nghiệp nhà nước làm việc theo tư duy lời thì ăn, lỗ thì Nhà nước chịu, nên rủi ro không phải là vấn đề lớn với họ”- bà Phạm Chi Lan nhấn mạnh.

Ngoài ra, theo bà Lan, tình trạng hoạt động chưa hiệu quả của các DNNNN còn có lý do là phạm vi giám sát của cơ quan đại diện vốn chủ sở hữu chưa rõ. Chưa kể, một số bộ, UBND cấp tỉnh là cơ quan đại diện vốn chủ trong DN, quản lý hàng trăm ngàn tỷ đồng nhưng chưa có cơ chế đánh giá và công bố công khai hiệu quả, trách nhiệm quản lý của chính các cơ quan đại diện này.

Lỗi do cơ chế giám sát?

Chuyện các DNNN làm ăn thua lỗ, sử dụng vốn của Nhà nước không hiệu quả đã được các bộ ngành, Chính phủ báo cáo tại hầu hết các cuộc họp của Quốc hội. Tuy nhiên, sau nhiều năm, tình trạng sử dụng hàng nghìn tỷ đồng vốn Nhà nước không hiệu quả tại nhiều tập đoàn, tổng công ty vẫn không được xử lý dứt điểm. Số người phải chịu trách nhiệm vì những quyết định sai lầm khiến hàng chục nghìn tỷ đồng tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước bốc hơi sau mỗi phi vụ đầu tư dự án nghìn tỷ đến nay chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Tại hội thảo “Đổi mới cơ chế giám sát của cơ quan đại diện chủ sở hữu trong tiến trình cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước” do Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức cách đây ít lâu, một số chuyên gia cho rằng, vốn nhà nước bốc hơi nhiều do cơ chế giám sát không hiệu quả.

Theo ông Phạm Đức Chung – Trưởng ban Đổi mới doanh nghiệp (CIEM), hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan đại diện chủ sở hữu, kiểm soát nội bộ chưa hiệu quả. Đây là những kẽ hở và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến vi phạm trong quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại nhiều DNNN.

Thực tế cho thấy, đầu tư ngoài ngành của hàng loạt các DNNN đã lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, đến nay chưa thu hồi được và giá trị thực tế của nhiều dự án đang ở mức dưới giá trị đã đầu tư. Bên cạnh đó, các bộ, ngành đã có nhiều nỗ lực để xử lý các dự án thua lỗ, kém hiệu quả nhưng phục hồi chậm.

“Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, nhưng trong đó có lý do là phạm vi giám sát của cơ quan đại diện vốn chủ sở hữu chưa rõ”- ông Phạm Đức Chung đánh giá.

Theo ước tính của ngành Tài chính, chỉ trong năm 2017, mức hụt thu ngân sách do DNNN làm ăn thua lỗ lên tới khoảng 12.000- 14.000 tỷ đồng. Còn nếu tính cả phần thất thoát, không thu hồi được từ các dự án đầu tư nghìn tỷ đắp chiếu, thiệt hại của Nhà nước còn lớn hơn nhiều.

Vietnam Airlines là hãng hàng không nội duy nhất khai thác sân bay Long Thành?

Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) Lê Đình Thọ ngày 22-10 đã chủ trì cuộc họp Báo cáo đầu kỳ công tác khảo sát và lập Báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 1 dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành (sân bay Long Thành).

Vietnam Airlines là hãng hàng không nội duy nhất khai thác sân bay Long Thành? - Ảnh 1.

Thứ trưởng Lê Đình Thọ chủ trì buổi họp Báo cáo đầu kỳ công tác khảo sát và lập Báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 1 dự án sân bay quốc tế Long Thành – Ảnh: Cổng TTĐT Bộ GTVT

Theo thông tin từ cuộc họp, liên quan đến việc phân chia khai thác giữa sân bay Long Thành và Tân Sơn Nhất, cơ quan Tư vấn JFV khuyến nghị sân bay Long Thành sẽ đảm nhiệm 85% chuyến bay quốc tế (gồm các chuyến bay quốc tế của Vietnam Airlines và các hãng hàng không nước ngoài) và 12% chuyến bay quốc nội của Vietnam Airlines (đường bay TP HCM – Hà Nội và TP HCM – Đà Nẵng). Các hãng hàng không khác trong nước như: Vietjet Air, Jetstar Pacific, Bamboo Airways (nếu có), Vasco sẽ chỉ khai thác ở sân bay Tân Sơn Nhất.

Về vấn đề này, Chánh Văn phòng Ban Quản lý dự án Long Thành (Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam – ACV) Nguyễn Khắc Phong cho biết Cục Hàng không Việt Nam và ACV đã triển khai lấy ý kiến các hãng hàng không trước khi hoàn chỉnh lại báo cáo.

Ông Nguyễn Khắc Phong khẳng định tiến độ triển khai tổng thể các hạng mục của Tư vấn JFV đã đáp ứng được yêu cầu theo hợp đồng. Công tác thu thập dữ liệu đầu vào phục vụ nghiên cứu; dự báo nhu cầu giao thông hàng không; đề xuất phân chia khai thác giữa 2 sân bay Tân Sơn Nhất và Long Thành; nghiên cứu thiết kế địa thế; nghiên cứu hệ thống giao thông kết nối; thu thập dữ liệu phục vụ công tác phân tích tài chính… đã và đang hoàn thành đúng tiến độ.

Phó Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam Võ Huy Cường cho rằng cần có định hướng sớm để khi thiết kế sân bay Long Thành có thể đáp ứng được sự phát triển trước mắt và lâu dài, đảm bảo điều hoà hoạt động của cả 2 sân bay Long Thành và Tân Sơn Nhất. Bên cạnh đó, ông Cường cũng đề nghị đơn vị tư vấn chú trọng đến hạ tầng sân bay và giao thông tiếp cận, đảm bảo mọi đối tượng hành khách, nhất là đối với người hạn chế khả năng di chuyển…

Thứ trưởng Lê Đình Thọ yêu cầu các đơn vị phấn đấu tháng 3-2019 phải xong báo cáo nghiên cứu khả thi (F/S). Thứ trưởng Thọ cũng giao TEDI là cơ quan tư vấn phải sớm hoàn chỉnh phương án giao thông tiếp cận; tư vấn JFV, ACV, Cục Hàng không Việt Nam phối hợp các cơ quan tham mưu của Bộ GTVT làm rõ hình thức đầu tư, phương án tài chính và làm rõ hạng mục nào làm PPP, hạng mục nào kêu gọi đầu tư, hạng mục nào đầu tư trực tiếp… của dự án.

Sân bay Long Thành (huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) được đầu tư xây dựng để đạt cấp 4F với công suất 100 triệu hành khách/năm và 5 triệu tấn hàng hóa năm trên tổng diện tích 5.000 ha. Tổng mức đầu tư là 336.630 tỉ đồng (tương đương 16,06 tỉ USD, áp dụng tỉ giá của năm 2014).

Dự án sân bay Long Thành gồm 3 giai đoạn. Giai đoạn 1: Đầu tư xây dựng 1 đường cất hạ cánh và 1 nhà ga hành khách cùng các hạng mục phụ trợ đồng bộ với công suất 25 triệu hành khách/năm, nhà ga hàng hóa 1,2 triệu tấn hàng hóa/năm; chậm nhất năm 2025 hoàn thành và đưa vào khai thác.

Theo báo cáo của Chính phủ về tình hình triển khai thực hiện dự án sân bay Long Thành vừa gửi Quốc hội trong tháng 10-2018, với tiến độ thực hiện giai đoạn 1 dự án sân bay Long Thành, chủ đầu tư – Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) – đã ký hợp đồng lập F/S với tư vấn JFV, gồm các công ty tư vấn JAV (của Nhật Bản) – APDi (cộng hòa Pháp) – Nippon Koei (Nhật Bản) – OC Global (Nhật Bản) – ADCC (Việt Nam) – TEDI (Việt Nam). Đồng thời, tư vấn JFV cũng đã ký hợp đồng thầu phụ đặc biệt với tư vấn HEERIM của Hàn Quốc (tác giả của phương án kiến trúc “Hoa Sen”) về việc lập thiết kế cơ sở nhà ga hành khách.

Theo kế hoạch, đến tháng 7-2019, tư vấn sẽ hoàn thành F/S, đến tháng 10-2019 sẽ trình Quốc hội thông qua dự án. Sau đó, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án vào tháng 12-2019.

‘Siêu ủy ban’ bắt đầu quản lý vốn ra sao?

Nên tập trung cổ phần hoá

Ngày 29/9, Nghị định số 131/2018/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp được ban hành. Trong vòng 45 ngày kể từ khi nghị định này có hiệu lực, 19 tập đoàn, tổng công ty sẽ chuyển về UB với tổng tài sản 2,3 triệu tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước gần 1 triệu tỷ đồng. UB dù được quy định chức năng, nhiệm vụ rõ ràng trong nghị định nhưng các chuyên gia kinh tế cho rằng, trước mắt UB nên tập trung làm tốt nhiệm vụ cổ phần các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trực thuộc.

Chuyên gia kinh tế Lưu Bích Hồ cho rằng, trong năm 2018, UB cần cố gắng hoàn thành việc tiếp nhận 19 tập đoàn, tổng công ty. Khi đã nhận bàn giao các DN xong xuôi, UB nên tập trung làm tốt nhiệm vụ cổ phần hoá.

“Tôi kỳ vọng nhất ở UB là thực hiện cổ phần hoá các DNNN dù việc này từ trước đến nay gặp nhiều vướng mắc. DNNN của chúng ta như “cô gái lỡ thì”, nếu cứ đòi giá cao mãi thì không ai mua. Để thúc đẩy việc cổ phần hoá, có thể xem xét kỹ việc định giá, thậm chí bán giá thấp hơn giá lâu nay, bởi giá trị tài sản nhà nước thực tế đang thua xa giá trị trên sổ sách”, ông Bích Hồ kiến nghị.

PGS.TS Phạm Thế Anh (ĐH Kinh tế Quốc dân) cho rằng, việc thành lập UB sẽ có một đầu mối về cổ phần hoá các DNNN. Nhiệm vụ đầu tiên và trước mắt của UB là hoàn thành tốt và khắc phục nhược điểm của quá trình cổ phần hoá đang tồn tại lâu nay ở các DNNN. “Chúng ta đừng quá kỳ vọng vào việc cải thiện hiệu quả DNNN, mà trước mắt cần làm tốt việc cổ phần hoá”, ông Thế Anh nói.

Ông Lê Đình Ân, nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội Quốc gia, cho rằng, để UB giúp các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trở thành tập đoàn sản xuất kinh doanh lớn là thách thức rất khó vượt qua. “Việc theo dõi, đôn đốc vốn nhà nước để đạt hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào cán bộ và bộ máy. Tuy nhiên, nhìn vào nhân sự của UB hiện nay, tôi chỉ thấy chủ yếu chuyển từ cán bộ nhà nước sang chứ chưa thấy bóng dáng doanh nhân”, ông Ân đánh giá.

2018, liệu có tiếp nhận hết DN?

Sau khi được thành lập ngày 12/10, UB họp giao ban đầu tiên triển khai công việc chuyển giao hồ sơ quyền đại diện chủ sở hữu với 19 doanh nghiệp trực thuộc. Tại cuộc họp, ông Nguyễn Hoàng Anh, Chủ tịch UB, nhấn mạnh, các doanh nghiệp cần chú ý 3 vấn đề trọng tâm (gồm: chuẩn bị hồ sơ chuyển giao; đánh giá thuận lợi khó khăn khi chuyển giao và dự kiến thời gian chuyển giao). Theo đó, năm 2019, UB sẽ cùng các doanh nghiệp xây dựng chiến lược hoạt động đến 2020, 2021 và tầm nhìn 10 – 20 năm tiếp theo.

Về các công tác khác như cổ phần hóa, sắp xếp bộ máy, những việc tồn đọng của doanh nghiệp, ông Hoàng Anh cho biết, UB đang chuẩn bị một số công việc liên quan chuyển giao, như số lượng doanh nghiệp, quy chế dự thảo bàn giao do Bộ Tài chính soạn thảo trình Thủ tướng ban hành, các bước thực hiện chuyển giao. “Việc chuyển giao sẽ theo nguyên tắc nguyên trạng trên cơ sở báo cáo tài chính gần nhất. Quá trình chuyển giao sẽ phải được thực hiện nhanh gọn, tiết kiệm và hiệu quả. Nội dung chuyển giao sẽ được thể hiện bằng hồ sơ chuyển giao. Trong hồ sơ phải làm rõ những vấn đề tồn đọng, trách nhiệm của từng bên liên quan…”, ông Hồ Sỹ Hùng, Phó Chủ tịch UB, nhấn mạnh.

Chiều 2/10, Bộ GTVT làm việc với 5 tổng công ty trực thuộc (Tổng Công ty Hàng không Việt Nam , Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam, Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam, Tổng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam và Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam) về công tác chuyển giao các doanh nghiệp về UB. Theo Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể, theo quy định, trong 45 ngày phải bàn giao xong. Bộ GTVT sẽ tiên phong bàn giao trước. Quỳnh Nga

Báo cáo về dự án giải phóng mặt bằng sân bay Long Thành chậm

Chính phủ đã có báo cáo về tình hình triển khai thực hiện dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành (sân bay Long Thành) gửi Quốc hội chuẩn bị cho kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV.

Trong đó, dự án giải phóng mặt bằng (GPMB) sân bay Long Thành có chủ đầu tư là UBND tỉnh Đồng Nai, thời gian thực hiện từ năm 2017 đến năm 2021, tổng mức đầu tư 22.856 tỉ đồng.

Dự án thu hồi 5.000 ha để xây dựng sân bay Long Thành và 364,21 ha để xây dựng 2 khu tái định cư. Tổng số trường hợp bị thu hồi đất và ảnh hưởng là 4.864 hộ gia đình với 15.557 nhân khẩu và 26 tổ chức sử dụng đất.

Báo cáo của Chính phủ, do Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) Nguyễn Văn Thể thừa ủy quyền của Thủ tướng ký, đánh giá việc hoàn thiện và thẩm định duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi (F/S) dự án GPMB đã chậm so với yêu cầu. Nguyên nhân là do chưa có quy định cụ thể của pháp luật và việc lập F/S dự án GPMB chưa có tiền lệ nên UBND tỉnh Đồng Nai gặp một số khó khăn, lúng túng trong quá trình lập, hoàn thiện F/S cũng như lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (báo cáo ĐTM) của dự án GPMB.

Tuy nhiên, phần lớn diện tích đất cần bàn giao cho Bộ GTVT để xây dựng sân bay Long Thành là diện tích đất vườn cây cao su của Công ty TNHH MTV Tổng Công ty cao su Đồng Nai (khoảng 1.099 ha/1.165 ha cần bàn giao) và khoảng gần 200 hộ dân.

Hiện nay, UBND tỉnh Đồng Nai đã chỉ đạo cắm mốc, kiểm đếm sơ bộ tài sản trên phần diện tích này; đồng thời, UBND tỉnh Đồng Nai đã làm việc với Công ty TNHH MTV Tổng Công ty cao su Đồng Nai để có thể bàn giao toàn bộ diện tích đất vườn cây cao su nằm trong phạm vi GPMB trong năm 2019. Đối với phần diện tích đất của gần 200 hộ dân, UBND tỉnh Đồng Nai sẽ tập trung triển khai GPMB trước, phấn đấu bàn giao đất vào cuối năm 2019 để Bộ GTVT triển khai rà phá bom mìn và các công việc liên quan đến triển khai dự án.

Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt F/S dự án GPMB, UBND tỉnh Đồng Nai sẽ tập trung triển khai đồng thời các công tác sau: Thực hiện GPMB để xây dựng các khu tái định cư (toàn bộ khu đất này cũng là đất vườn cây cao su của Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai); triển khai công tác đầu tư xây dựng hạ tầng các khu tái định cư; thực hiện GPMB 1.165 ha (giai đoạn 1) gồm: 1.099 ha của Công ty TNHH MTV Tổng Công ty cao su Đồng Nai và đất của khoảng 200 hộ dân; thực hiện đào tạo nghề, giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống của người dân trong vùng dự án.

Phần diện tích còn lại của dự án, UBND tỉnh Đồng Nai sẽ tiếp tục thực hiện để hoàn thành trước năm 2021 theo Nghị quyết số 53/2017/QH14 của Quốc hội.

Sân bay Long Thành (huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) được đầu tư xây dựng để đạt cấp 4F với công suất 100 triệu hành khách/năm và 5 triệu tấn hàng hóa năm.

Tổng mức đầu tư là 336.630 tỉ đồng (tương đương 16,06 tỉ USD, áp dụng tỉ giá của năm 2014).

Dự án sân bay Long Thành gồm 3 giai đoạn. Giai đoạn 1: Đầu tư xây dựng 1 đường cất hạ cánh và 1 nhà ga hành khách cùng các hạng mục phụ trợ đồng bộ với công suất 25 triệu hành khách/năm, nhà ga hàng hóa 1,2 triệu tấn hàng hóa/năm; chậm nhất năm 2025 hoàn thành và đưa vào khai thác.

Giai đoạn 2: Tiếp tục đầu tư xây dựng thêm 1 đường cất hạ cánh cấu hình mở và 1 nhà ga hành khách để đạt công suất 50 triệu hành khách/năm, 1,5 triệu tấn hàng hóa/năm.

Giai đoạn 3: Hoàn thành các hạng mục để đạt công suất 100 triệu hành khách/năm và 5 triệu tấn hàng hóa/năm.

Tháng 10-2019 trình Quốc hội thông qua

Về tiến độ thực hiện giai đoạn 1 dự án sân bay Long Thành, chủ đầu tư – Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) – đã ký hợp đồng lập F/S với tư vấn JFV, gồm các công ty tư vấn JAV (của Nhật Bản) – APDi (cộng hòa Pháp) – Nippon Koei (Nhật Bản) – OC Global (Nhật Bản) – ADCC (Việt Nam) – TEDI (Việt Nam). Đồng thời, tư vấn JFV cũng đã ký hợp đồng thầu phụ đặc biệt với tư vấn HEERIM của Hàn Quốc (tác giả của phương án kiến trúc “Hoa Sen”) về việc lập thiết kế cơ sở nhà ga hành khách.

Theo kế hoạch, đến tháng 7-2019, tư vấn sẽ hoàn thành F/S.

Đến nay, tư vấn đã và đang triển khai một số công việc sau: Cập nhật nhu cầu giao thông hàng không; thu thập dữ liệu phục vụ phân tích tài chính sơ bộ; thu thập dữ liệu làm cơ sở thiết kế quy hoạch vùng trời; nghiên cứu điều chỉnh mặt bằng kiến trúc nhà ga hành khách, điều chỉnh kích thước đường cất hạ cánh, đường lăn, sân đậu tàu bay cho phù hợp với các quy định hàng không mới nhất trên thế giới; thực hiện nghiên cứu hệ thống giao thông kết nối với sân bay Long Thành và quy hoạch thiết kế địa thế cho tổng thể công trình.

ACV đã ký kết hợp đồng với tư vấn là liên danh giữa Viện Khoa học và Công nghệ GTVT với Trung tâm Môi trường và Sinh thái ứng dụng với thời gian lập Báo cáo ĐTM là 9 tháng (hoàn thành vào cuối tháng 3-2019). Báo cáo ĐTM sẽ được lập song song với quá trình lập F/S và sẽ trình Bộ Tài nguyên và Môi trường để thẩm định, phê duyệt trước khi trình F/S cho Hội đồng Thẩm định nhà nước. Hiện nay, tư vấn đang thực hiện.

Theo kế hoạch, đến tháng 10-2019 sẽ trình Quốc hội thông qua dự án. Sau đó, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án vào tháng 12-2019. Chính phủ đánh giá tiến độ thực hiện giai đoạn 1 dự án sân bay Long Thành như hiện nay sẽ đáp ứng được yêu cầu theo các nghị quyết của Quốc hội.

Thu nhập tới 245,7 triệu đồng/tháng ở công ty bảo dưỡng máy bay miền Nam

Thanh tra Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ-TB-XH) mới đây đã công bố kết luận thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật lao động tại Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) và các đơn vị trực thuộc, công ty con, công ty liên kết.

Các bản kết luận thanh tra này đã cho thấy mức thu nhập của người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp dịch vụ hàng không này.

Theo đó, tại ACV có 9.312 lao động với mức thu nhập trung bình năm 2017 là 27,4 triệu đồng/người/tháng. Trong đó, người cao nhất đạt 121,4 triệu đồng, thấp nhất là 12,9 triệu đồng. Khối văn phòng của tổng công ty có lương cao hơn lao động tại các cảng hàng không với thu nhập trung bình là 45,8 triệu đồng/người/tháng. Người quản lý chuyên trách là người đại diện vốn nhà nước hưởng mức lương 146,6 triệu đồng/tháng.

Thu nhập tới 245,7 triệu đồng/tháng ở công ty bảo dưỡng máy bay miền Nam - Ảnh 1.

Hoạt động bảo dưỡng máy bay tại sân bay quốc tế Nội Bài – Ảnh: Dương Ngọc

Tuy nhiên, đơn vị có lao động hưởng thu nhập cao nhất tại nhóm công ty dịch vụ hàng không này thuộc về Công ty TNHH Dịch vụ bảo dưỡng máy bay cảng hàng không miền Nam, công ty liên kết của ACV. Thu nhập bình quân của lao động tại công ty chuyên bảo dưỡng máy bay này năm 2017 lên tới 33,6 triệu đồng/người/tháng, mức thu nhập bình quân cao nhất trong số các công ty thành viên thuộc ACV.

Người lao động có mức thu nhập cao nhất tại công ty này là 245,7 triệu đồng/tháng, như vậy lao động này nhận về tới gần 3 tỉ đồng cả năm. Mức thu nhập thấp nhất ở công ty này là 8,5 triệu đồng/người/tháng. Ngoài ra, nhiều lao động tại các công ty thành viên khác cũng đang hưởng mức thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi tháng.

Tại Công ty Cổ phần Phục vụ mặt đất Hà Nội, nơi ACV đang nắm giữ 20% vốn doanh nghiệp hiện có khoảng 864 lao động với mức thu nhập bình quân hơn 12,3 triệu đồng/người/tháng. Trong đó, mức thu nhập cao nhất của nhân sự lên tới 156 triệu đồng/tháng, tương đương 1,9 tỉ đồng/năm.

Tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài (chi nhánh của ACV), mức thu nhập bình quân của lao động tại đây mỗi tháng năm 2017 là 25,6 triệu đồng, trong đó người cao nhất là 115 triệu đồng/tháng, người thấp nhất đạt gần 20 triệu đồng/tháng.

Còn tại Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, người lao động tại đây đang hưởng mức thu nhập bình quân khoảng 24,7 triệu đồng/tháng. Người lao động có thu nhập cao nhất tại đây đang được chi trả 107 triệu đồng/tháng. Còn lao động có thu nhập thấp nhất là hơn 15,5 triệu đồng/tháng.

Làm việc tới 15 giờ/ca

2 vụ tai nạn lao động chết người

Trong thời kỳ thanh tra, đã xảy ra 2 vụ tai nạn lao động chết người (1 người tại chi nhánh Nội Bài, 1 người tại chi nhánh Đà Nẵng). Vụ việc đã được điều tra, khai báo với cơ quan quản lý nhà nước về lao động theo quy định và thanh toán chi phí bồi thường.

Tại các kết luận này, Thanh tra Bộ LĐ-TB-XH đã chỉ ra nhiều thiếu sót, sai phạm của ACV và các đơn vị thành viên liên quan tới công tác sử dụng lao động, chi trả lương ngoài giờ, tăng ca và thời gian làm việc của nhân viên.

Đặc biệt, tại Chi nhánh Tân Sơn Nhất, thanh tra Bộ cho biết người lao động thuộc bộ phận công nghệ thông tin và vận hành thiết bị ga quốc nội thuộc Trung tâm dịch vụ kỹ thuật hàng không đang phải làm việc tới 15 giờ/ca (từ 16 giờ 30 đến 7 giờ 30 sáng hôm sau). Cùng với đó, việc áp dụng giờ làm việc 8 giờ/ngày, 48 giờ/tuần đối với những người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như lắp đặt, sửa chữa, bảo dưỡng đường dây thông tin liên lạc hàng không là không đúng quy định.

Về vấn đề tiền lương, nhiều lao động làm công việc vệ sinh công nghiệp trên cao có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, nhưng chỉ được chi trả mức lương như công việc vệ sinh văn phòng làm việc trong điều kiện bình thường. Tại 2 chi nhánh Nội Bài và Tân Sơn Nhất, người lao động làm thêm giờ vào ngày lễ, Tết chỉ được trả lương 100% tiền so với ngày thường; làm thêm giờ vào ban đêm của ngày lễ, Tết được trả bằng 130% là không đúng quy định.

Người đại diện vốn của ACV giữ chức vụ tổng giám đốc tại Công ty cổ phần Dịch vụ nhiên liệu hàng không Nội Bài đã được hưởng lương chuyên trách tại công ty này nhưng ACV vẫn chi thù lao chuyên trách là không đúng quy định.

Thu nhập tới 245,7 triệu đồng/tháng ở công ty bảo dưỡng máy bay miền Nam - Ảnh 3.

Thanh tra Bộ Lao động đã chỉ ra nhiều thiếu sót, sai phạm của ACV và các đơn vị thành viên liên quan tới công tác sử dụng lao động, chi trả lương ngoài giờ, tăng ca và thời gian làm việc của nhân viên – Ảnh minh hoạ: Dương Ngọc

Thanh tra Bộ LĐ-TB-XH cũng chỉ ra nhiều vi phạm trong công tác chi lương, thưởng, khám sức khoẻ, công tác an toàn lao động và giờ lao động cho nhân viên tại các chi nhánh, công ty thành viên do ACV sở hữu vốn như Công ty TNHH Dịch vụ bảo dưỡng máy bay cảng hàng không miền Nam; Công ty cổ phần Phục vụ mặt đất Hà Nội hay Công ty cổ phần Dịch vụ nhiên liệu hàng không Nội Bài.

Ngoài ra, Thanh tra Bộ LĐ-TB-XH cho biết chi nhánh Tân Sơn Nhất đang áp dụng thời gian thử việc 28 ngày với vị trí làm công việc vệ sinh môi trường khu bay và thử việc 30 ngày với người lao động làm việc vệ sinh sân đỗ là không đúng quy định. Đây là những vị trí làm công việc vệ sinh môi trường không cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật. Còn tại chi nhánh Đà Nẵng, áp dụng thời gian thử việc 60 ngày đối với tất cả các công việc cũng không đúng.

Chánh thanh tra Bộ LĐ-TB-XH Nguyễn Tiến Tùng yêu cầu ACV khắc phục những thiếu sót, sai phạm và có báo cáo bằng văn bản về Thanh tra Bộ LĐ-TB-XH. Tổng giám đốc ACV có trách nhiệm phổ biến các sai phạm đã được nêu đối với các đơn vị chưa được thanh tra, yêu cầu tự rà soát, khắc phục các sai phạm tương tự; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách lao động, tiền lương đối với các đơn vị trong Tổng công ty nhằm kịp thời xử lý, chấn chỉnh; đôn đốc, giám sát các đơn vị được thanh tra thực hiện các kiến nghị trong kết luận thanh tra.

Những nhân tố đầy bất ngờ khiến tăng trưởng đảo chiều

Theo báo cáo của Bộ phận phân tích và tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI), đóng góp cho sự đảo chiều này là lĩnh vực công nghiệp và xây dựng với mức tăng trưởng 8,61%, cao hơn 0,21 điểm % so với quý 2 tăng. Trong khi đó, nông, lâm nghiệp, thủy sản và dịch vụ trong quý 3 đều giảm tốc.

Khi phân tích lĩnh vực công nghiệp và cây dựng, phía SSI chú ý sự cải thiện của ngành xây dựng với mức tăng trưởng cao nhất kể từ đầu năm là 9,2%

Trong khi đó công nghiệp chế biến chế tạo, ngành có tỷ trọng giá trị lớn nhất trong GDP đi ngang với tăng trưởng 12,1%, khai khoáng giảm 3,3% (quý 2 giảm -3,1%).

Nguyên nhân ngành xây dựng cải thiện có thể xuất phát từ sự cải thiện trong giải ngân vốn đầu tư toàn xã hội, đặc biệt là giải ngân đầu tư công.

Quý 3/2018, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 507 nghìn tỷ, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm ngoái, cao nhất 4 quý, trong đó vốn ngân sách nhà nước đạt mức tăng ấn tượng 14,9%, gấp đôi tốc độ tăng trưởng của 2 quý trước đó.

Vốn đầu tư tư nhân, nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất (42,5%), cải thiện nhẹ và vươn lên mức cao nhất nhiều năm, là 18,8%. Sự bù đắp của 2 nguồn vốn này thay cho FDI là minh chứng cho sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung hơn vào nội lực.

Tăng tốc giải ngân vốn ngân sách cũng là một dấu hiệu tích cực bởi nguồn lực tài khóa đang đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng khi dư địa tiền tệ hẹp lại. Mặt khác, điều này cho thấy việc tháo gỡ các nút thắt trong giải ngân đầu tư công đang có tiến triển tốt.

Sự cải thiện của ngành xây dựng là có cơ sở nhất định nhưng phía SSI cho biết họ cảm thấy băn khoăn do một số số liệu khác của ngành.

Thứ nhất, khảo sát hoạt động của 5300 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá tình hình kinh doanh của quý 3 khó khăn hơn quý 2 là 39,5%, tăng nhẹ so với quý 2 so với quý 1 là 38,6%.

Thứ hai, đó là tăng trưởng sản lượng của xi măng, sắt thép trong các tháng quý 3 không có nhiều thay đổi. Sản lượng xi măng 9 tháng tăng 9,5% trong khi 6 tháng tăng cao hơn,10.6%. Tương tự sản lượng sắt thép thô 9 tháng tăng 36,6% thấp hơn 6 tháng là 43,7%.

Công nghiệp Chế biến chế tạo duy trì tăng trưởng ổn định một phần nhờ … may mắn

Theo SSI, mặc dù đóng góp của ngành xây dựng là đáng ghi nhận, ngành công nghiệp chế biến chế tạo mới thực sự là bệ đỡ để có được sự cải thiện trong quý 3.

Ngành công nghiệp chế biến chế tạo có tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP (18,8%) và thường có mức tăng trưởng cao trên 10% nên đã luôn là động lực thúc đầy tăng trưởng chung.

Trong quý 1/2017 và quý 2/2018, ngành công nghiệp chế biến chế tạo cùng gặp một khó khăn, đó là sự giảm sút của công nghiệp điện tử mà nguyên nhân chính là sản lượng điện thoại của Samsung.

Với giá trị sản xuất rất lớn, chiếm tới 20% GDP, điện thoại và công nghiệp điện tử có ảnh hưởng trọng yếu đến kinh tế Việt nam. Sau sự cố Galaxy Note 7 vào cuối năm 2016, thành công của Galaxy S8 và Note 8 đã mang lại kết quả rất tích cực cho nửa cuối năm 2017.

Tuy vậy ngay cả khi Galaxy S9 đã ra đời, sản xuất điện thoại trong năm 2018 vẫn giảm sút do Samsung thay đổi kế hoạch sản xuất. Đây là một thay đổi tương đối bất ngờ và tạo ra rủi ro lớn cho kinh tế Việt nam nếu không có được những động lực tăng trưởng mới.

Ở tình thế khó khăn đó, chính sách đúng đắn và cả may mắn đã giúp tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong quý 3 không sụt giảm mạnh theo đà sụt giảm của điện thoại như đã xảy ra trong quý 2.

Về chính sách, hàng loạt các quy định có tính bảo hộ với ngành sản xuất ô tô và dược phẩm đã phát huy tác dụng.

Cụ thể, ngành sản xuất xe có động cơ liên tục có cải thiện, sau 9 tháng đã vươn lên 16,3%, cao nhất 21 tháng. Tương tự, dược đạt 25,9%, cao nhất nhiều năm.

Về cơ may, căng thẳng thương mại Mỹ – Trung và việc Trung Quốc giảm sản lượng các ngành công nghiệp ô nhiễm (thép) hay nhân công giá rẻ (dệt may) đã mở ra cơ hội cho xuất khẩu hàng hóa Việt nam. Xuất khẩu dệt may 9 tháng tăng tới 17,1%, cao nhất kể từ năm 2015 còn sắt thép là +51.5%, duy trì phong độ cao có được từ năm 2017.

Một may mắn khác phải kể đến là việc nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn đi vào hoạt động. Mặc dù nhập khẩu nguyên liệu và không xuất khẩu, nhà máy lọc dầu Nghi Sơn vẫn có đóng góp kịp thời và đáng kể cho ngành công nghiệp nói chung khi tạo ra tăng trưởng tới 53,1% cho ngành sản xuất than cốc và dầu mỏ tinh chế…